Chữa trị viêm loét dạ dày - tá tràng

Trong lúc các kháng sinh có thể chữa trị hầu hết các chứng loét dạ dày-ruột do Helicobacter pylori,thì các dược thảo như cải bắp sống,rễ cam thảo và các chất chống ô xy hóa có khả năng làm mau lành vết loét.

Có hai loại vết loét tiêu hóa,loét dạ dày phát sinh ở dạ dày và loét hành tá tràng phát sinh ở ruột.Một lớp niêm mạc thường bảo vệ đường viền dạ dày và ruột khỏi bị acid dịch vị rất dễ xói mòn và các men tiêu hóa tấn công.Nguyên do loét là khi thành niêm mạc này bị tổn thương hoặc bị phá hủy.Trong nhiều thập niên qua, người ta cho rằng loét chủ yếu gây ra bởi dư thừa dịch vị,người ta còn nghĩ là có các yếu tố đã góp phần vào chứng loét như ăn ít chất xơ, ăn chất cay, dị ứng thức ăn, hút thuốc lá và bị stress. Bây giờ người ta hiểu là các yếu tố ăn thì làm trầm trọng chứng loét, chứ không phải nguyên nhân gây ra loét.

Năm 1983, hai bác sỹ người Úc là Barry Marshall và Robin Warren đã chứng minh rằng Helicobacter Pylori có thể làm loét phát triển. Ngày nay, mọi người thừa nhận rằng 92% loét tá tràng và 70% loét dạ dày là do Helicobacter Pylori
Nguyên do thứ hai gây loét là do sử dụng Aspirin và các thuốc kháng viêm không phải corticoid khác khiến có thể kích thích trực tiếp viền dạ dày và ruột.Vài giới chức y tế ước đoán có hơn nửa dân số Thế giới có thể bị nhiễm H. Pylori. Mặc dù nhiều người đang có vi khuẩn này khu trú mà không có loét và không bao giờ phát sinh các triệu chứng. Sự kiện chứng tỏ đa số người nhiễm H. Pylori không phát sinh loét dạ dày tá tràng gợi ý rằng các đặc tính vật chủ, sự thay đổi chủng vi khuẩn hoặc các yếu tố khác đóng vai trò bệnh lý học của bệnh loét tiêu hóa. Người ta nghĩ đến sự lây nhiễm của người đến từ thức ăn và nước bị nhiễm H. Pylori và các khảo cứu chứng tỏ vi khuẩn được lan truyền từ người nọ đến người kia đặc biệt trong gia đình. Gần đây người ta khám phá ra rằng ruồi nhà mang H. Pylori và có thể truyền qua người. H. Pylori có khả năng độc đáo là tồn tại ở môi trường acid khắc nghiệt của dạ dày thường có độ PH từ 1-3. Viền dạ dày được bảo vệ khỏi xói mòn của chính acid dịch vị bằng một lớp dày niêm mạc. H. Pylori lấy lợi điểm của sự bảo vệ này, sống dưới viền niêm mạc dày của đường dạ dày-ruột. Các vi khuẩn H. Pylori cũng sản sinh ra men khiến tiêu hủy thành niêm mạc thường để che chở viền dạ dày. H. Pylori dạng hình xoắn, có tới 4 đến 6 đuôi(flagella) giống hình xoắn mở nút chai, có khả năng cày thành đường trong dạ dày hay ruột.Một khi nằm an toàn trong lớp niêm mạc, vi khuẩn tự che chở khỏi bị acid dịch vị tấn công bằng cách tiết ra một men gọi là urease.Men này chuyển thành urê có nhiều trong nước bọt và dịch vị để biến thành ammonium và bicarbonate đều là các base mạnh. Như vậy, H. Pylori tạo ra một PH kiềm hơn rồi lại che chở các vi khuẩn khỏi bị ảnh hưởng của dịch vị acid.Tác dụng này của vi khuẩn làm tiêu tan thành niêm mạc che chở và cày thành đường niêm mạc dạ dày ruột, khiến acid dịch vị tiếp xúc trực tiếp với mô sống, không được bảo vệ sẽ gây loét cùng các triệu chứng đau đặc trưng và cảm giác nóng rát.

Thêm vào chứng loét, có bằng chứng rõ nét gợi ý viêm và các bất thường tiêu hóa do H. Pylori gây ra, có thể góp phần vào sự phát sinh các vấn đề sức khỏe khác như ung thư, bệnh tim, các rối loạn tự miễn dịch, dị ứng, tình trạng da và suy dinh dưỡng. Kích thích đều đặn niêm mạc dạ dày có thể cảm ứng tế bào chịu một thay đổi ác tính.Năm 1994, Tổ chức y tế Thế giới (WHO) xếp loại H.Pylori như nhóm I gây ung thư, loại trầm trọng nhất của các tác nhân gây ung thư.

Trị liệu hữu hiệu loét tiêu hóa gồm trừ tiệt các vi khuẩn H. Pylori, làm lành các mô loét và giáo dục người bệnh về cách thay đổi lối sống để có thể làm giảm hoặc loại đi các yếu tố gây cho loét phát sinh ở chỗ đầu tiên. Nhiều người cố gắng tự dùng thuốc chữa trị các loét như các thuốc kháng acid, hoặc thuốc trị ợ nóng để giảm tác động và ngưng các triệu chứng.Điều này chỉ làm kéo dài chứng bệnh và gây đau đớn không cần thiết. Khi người bệnh tự sử dụng thuốc, các thuốc kháng acid và thuốc đối kháng histamine H2 tạo một PH kiềm hơn,như vậy, có thể khuyến khích sự tăng trưởng và lan rộng H. Pylori.

Trị liệu mẫu để tiệt trừ H.Pylori gồm 2 hoặc 3 kháng sinh đi kèm với bismuth subsalicylate để che viền dạ dày, có thể dùng một thuốc làm ngưng tiết acid như omeprazol thay vì dùng bismuth.
Khi dùng các thuốc làm tăng cao PH kết hợp với kháng sinh,các thuốc tăng cao PH này làm cho H. Pylori phân chia khiến các vi khuẩn dễ nhạy cảm với kháng sinh. Hai hay ba kháng sinh được dùng chung vì vài chủng vi khuẩn kháng lại với các kháng sinh.Các kháng sinh thường dùng nhất là Clarythromycin, Amoxiclin, Tetracyclin và metronidazoole.Trị liệu này đạt một tỷ lệ chữa trị cao tới 80% đến 90% trong vòng 2 tới 4 tuần.

Nhiều trị liệu thiên nhiên có thể làm lành các vết loét, chẳng hạn nước cốt ép bắp cải sống đã điều trị thành công đáng kể. Một khảo cứu cho thấy nước ép bắp cải tươi có thể làm lành vết sẹo khoảng 10 ngày.

Rễ cam thảo có một lịch sử lâu dài điều trị thành công các vết loét.Trong các thành phần của cam thảo,có acid glycyrrhizinic. Acid này có thể làm tăng huyết áp, nên acid này thường được lấy đi, phần còn lại gọi là cam thảo đã lấy đi  acid glycyrrhizinic, có tác dụng như một tác nhân lành vết loét mà không có phản ứng phụ

Các chất chống ô xy hóa như Vitamin C,E và A và Kẽm (Zn) vừa dự phòng vừa điều trị loét. Acid amin glutamine là một nguồn năng lượng quan trọng cho các mô ruột.Uống Glutamine 4g ngày 2 lần làm lành các mô loét đường dạ dày ruột nhanh chóng hơn nữa.n

BS. Cao Đức Hy

No comments

Powered by Blogger.